Tờ giấy bạc đầu tiên của Việt Nam (CAND)


Với nhiệm vụ lo công quỹ, phải có tiền bù đắp những chi phí của chính quyền cách mạng, cụ Nguyễn Văn Khoát đã có nhiều suy nghĩ: “Không chỉ nhìn vào đồng tiền Đông Dương được, phải có đồng tiền của ta, nhân dân tin tưởng một lòng với Hồ Chủ tịch, Chính phủ lâm thời thì cũng tín nhiệm đồng tiền Cụ Hồ…”. Rồi với quyết định sáng suốt của Chính phủ, đồng tiền Việt Nam đã ra đời cuối năm 1946.

Tờ tiền giấy 5 đồng có chữ ký của Giám đốc Ngân khố Nguyễn Văn Khoát.

Giám đốc Ngân khố Trung ương từ ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến gần kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì là cụ Nguyễn Văn Khoát. Khi là Phó Thủ tướng, đồng chí Phạm Văn Đồng trân trọng viết trong lá thư riêng gửi cụ: “Một vị nhân sĩ xứng đáng, đã tận tâm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân từ trước đến sau”.

Ngày 31/11/1946, lần đầu tiên những đồng tiền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành. Một mặt tiền có chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Quốc ngữ và chữ Hán) và hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một mặt có hình Nông Công Binh. Các loại tiền giấy gồm nhiều mệnh giá khác nhau: 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng, 1 đồng và có chữ ký của Thứ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến cùng với chữ kí của Giám đốc Ngân khố Trung ương.

Cậu bé Nguyễn Văn Khoát sinh trưởng trong một gia đình giàu có bậc trung lưu, nhưng sớm mồ côi cha mẹ. Thiếu thốn về vật chất và tình yêu thương của gia đình từ thuở thiếu thời nên còn nhỏ cậu đã biết tu thân sửa trí, không bao giờ bị lôi cuốn vào việc ăn chơi.

Năm lên 6 tuổi, cậu bé Khoát đã đi học chữ Nho. Năm 17 tuổi cậu vào học trường Bưởi. Thời gian học tập tại đây, cậu chịu ảnh hưởng nhiều của một vị túc Nho, thường gọi là Cụ Tú Kẻ Sặt là một nhà Nho giàu lòng yêu nước. Những khi cậu được hầu chuyện cụ, nhất là về đêm khuya, cụ thường mang những chuyện ưu thời mẫn thế nói cho cậu nghe, rồi cụ đọc những bài thơ đầy giọng cảm khái do cụ và các bạn cùng làm. Tấm lòng yêu nước của cậu bé Nguyễn Văn Khoát đã được nảy nở, nuôi dưỡng bồi bổ trong những buổi dạ đàm ấy.

Tốt nghiệp Trường Bưởi, Nguyễn Văn Khoát ra làm công chức ngạch bản xứ. Trong thời kỳ làm công chức với Pháp, ông tham gia đấu tranh giành nhiều quyền lợi cho công chức ngạch bản xứ. Ông được các ban bầu làm Hội trưởng Hội Đông Dương công chức tương tế hội (assecourfi) để gặp phong trào tương tế và ái hữu giữa công chức các xứ của Đông Dương. Ông còn được bầu làm Thư ký và Hội trưởng Hội Bắc Kỳ liên hiệp công chức bản xứ ái hữu hội trong hơn 10 năm.

Năm 1936, ông được các ban bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp ái hữu để bênh vực quyền lợi của công chức ngạch bản xứ. Ông thường khuyên bảo các bạn đồng sự ít tuổi đến sau: “Chúng ta là vì nợ cơm áo mà phải đi làm công sở, lương ta lĩnh do dân nộp thuế, Pháp lĩnh lương cũng là tiền của dân ta, chúng ta lấy công việc để trả lại số lương ấy, chúng ta không nên lấy việc làm ở công sở làm mục đích cứu cánh mà sao nhãng việc học, trong mọi hành vi là phải làm sao để Pháp chỉ có thể ghét ta mà không thể khinh ta”.

Suốt thời kỳ Pháp thuộc và thời kì ngắn ngủi Nhật thuộc, ông đã thi hành được trọn vẹn khẩu hiệu ấy: Pháp và Nhật có thể ghét nhưng không thể khinh ông.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), ông Nguyễn Văn Khoát được bầu làm Phó Hội trưởng thứ nhất, rồi Hội trưởng Tổng hội Công chức Đông Dương. Khi dẫn đầu cuộc tranh đấu của công chức Việt Nam ở Hà Nội, cũng như khi giao thiệp với Thống sứ, Hiến binh của Nhật, ông không để cho chúng lợi dụng mà vẫn luôn bảo toàn được nhân phẩm, danh dự, uy tín của công chức Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ ra đời. Những ngày trứng nước đó, đất nước gặp vô vàn khó khăn, ngân khố quốc gia trống rỗng. Xây dựng một nền tài chính vững mạnh là yêu cầu rất cấp thiết để duy trì hoạt động của chính quyền cách mạng. Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Tài chính. Một trong những nhiệm vụ của Bộ Tài chính là từng bước xây dựng và phát triển nền tiền tệ Việt Nam độc lập. Tiếp đó, sau ngày tuyên bố độc lập (2/9/1945) một tháng, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng chỉ đạo việc in và phát hành tiền giấy bạc Việt Nam.

Một số thợ vẽ bản đồ ở Xưởng in Đà Lạt do họa sĩ Ngô Chí Viễn dẫn đầu ra nhận công tác ở ngành bản đồ thuộc Bộ Tổng tham mưu cũng được huy động tham gia. Hai tờ tiền quan trọng được thực hiện trước là tờ 10 đồng do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đảm nhận và tờ 5 đồng do họa sĩ Mai Văn Hiến trình bày.Bộ Tài chính đã triệu tập về Thủ đô Hà Nội 20 họa sĩ để vẽ mẫu các loại giấy bạc, chia làm các nhóm như sau: nhóm họa sĩ Mai Văn Hiến vẽ mẫu giấy bạc 5 đồng; nhóm họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung vẽ mẫu giấy bạc 10 đồng; nhóm họa sĩ Nguyễn Văn Khanh vẽ mẫu giấy bạc 20 đồng; nhóm kiến trúc sư Lương Văn Tuất và ông Đào Văn Trung – cán bộ cũ ở Sở Địa đồ chuyên vẽ diềm trang trí và kẻ chữ, họa sĩ Nguyễn Huyến vẽ hình giữa mẫu giấy bạc 100 đồng. Các họa sĩ khác như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Lê Phả… đều tham gia vẽ mẫu.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính còn cho in hai loại tiền có mệnh giá 5 hào và 1 đồng được in ấn trước bằng kim loại tại Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Đến ngày 31/1/1946, sắc lệnh phát hành tiền giấy trên toàn quốc được ban hành. Tờ giấy bạc đầu tiên của Việt Nam trong tư thế một quốc gia độc lập chính thức bước vào cuộc sống. Lần lượt các mệnh giá 5 đồng, 10 đồng, 100 đồng được ra đời.

Là Giám đốc Ngân khố Trung ương, cụ Nguyễn Văn Khoát đã hết lòng vì nền tài chính cách mạng thuở ban đầu. Đặc biệt từ lâu cụ đã ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh – dưới bí danh Nguyễn Ái Quốc – qua sách báo từ Paris gửi sang. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, cụ còn được đọc một quyển sách của Sở Liêm phóng Pháp xuất bản, nói về các nhà cách mạng, trong đó có ảnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ngoài 40 tuổi.

Cho nên, khi đứng dưới đoàn người dự lễ mít tinh ngày 2/9/1945, nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, cụ đã rõ Hồ Chủ tịch chính là Nguyễn Ái Quốc – người mà lúc nào cụ cũng kính phục và tin tưởng. Vì vậy cụ thường nói với các bạn: “Chúng ta đã có người đứng mũi chịu sào để lo việc nước, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, chúng ta phải hết sức tin tưởng vào Hồ Chủ tịch, nếu không thế nước lại sẽ bị mất lần nữa”.

Vì vậy, với các khoản chi tiêu của Chính phủ và các Bộ từ số tiền do các gia đình tư sản yêu nước Hà Nội và nhân dân đóng góp được trong Tuần lễ vàng, cụ Nguyễn Văn Khoát đều tính toán hết sức cặn kẽ. Một hôm vì chuyện xích mích với Nha Ngân khố về số tiền khoảng hơn 3 triệu của Sở Kinh tế Bắc Kỳ cũ giao cho Bộ Kinh tế (Bộ trưởng là người của Quốc dân đảng), ông Ngô Trọng Phương – Đổng lý văn phòng Bộ Kinh tế, gọi điện thoại đe dọa:Có một kỷ niệm mà cụ Nguyễn Văn Khoát không quên, là lời khuyên răn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, tại cuộc họp của các cán bộ cao cấp của Chính phủ, tại Thị chính Hà Nội, cuối năm 1945, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng giải thích về tình hình tài chính của Quốc gia và việc bắt buộc thải hồi bớt công chức. Hồ Chủ tịch đã khuyên mọi người phải kiệm. Cụ giơ mảnh giấy và bảo mọi người phải kiệm từ mảnh giấy để lợi cho công quỹ.

– Anh Khoát phải không? A, anh chỉ biết tụi Việt Minh của nhà anh, anh liệu hồn đấy, chúng tôi sẽ mang anh đi xa.

Cụ bị ông ta đe dọa sẽ bắt cóc và thủ tiêu như đã từng làm với các đồng chí Trần Đình Long – Tham nghị ủy viên Chính phủ, Bộ trưởng Không bộ Bồ Xuân Luật (bị bắn trọng thương)…

Ông Nguyễn Hoàng Trí, con trai trưởng của cụ Nguyễn Văn Khoát, năm nay 84 tuổi, nhớ lại:

– Với nhiệm vụ lo công quỹ, phải có tiền bù đắp những chi phí của chính quyền cách mạng. Trước tình hình khẩn trương, cha tôi băn khoăn, suy nghĩ nhiều. Về vấn đề này, có đôi lúc bật ra thổ lộ với tôi: “Không chỉ nhìn vào đồng tiền Đông Dương được, phải có đồng tiền của ta, nhân dân tin tưởng một lòng với Hồ Chủ tịch, Chính phủ lâm thời thì cũng tín nhiệm đồng tiền Cụ Hồ chứ! Thầy đã đệ trình lên ông Bộ trưởng Tài chính sự cần thiết có đồng tiền của ta để tiêu dùng trong nhân dân”.

Rồi với quyết định sáng suốt của Chính phủ, đồng tiền Việt Nam đã ra đời cuối năm 1946. Ban đầu, nhân dân ta tiêu dùng giấy bạc Cụ Hồ song song với đồng tiền Đông Dương và đồng tiền của quân đội Tưởng mang theo sang Việt Nam (đồng quốc tệ và đồng quan kim, chúng ép ta phải để cho lưu thông ngoài thị trường trong thời gian đầu quân đội Tưởng còn làm nhiệm vụ tước vũ khí của quân đội Nhật) cho đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra toàn quốc. Dần dần trong kháng chiến tờ bạc Đông Dương bị hoàn toàn loại ra khỏi vòng tín nhiệm của nhân dân.

Những ngày cuối năm 1946, tình hình trong nước ngày càng căng thẳng, một cuộc chiến tranh sắp bùng nổ. Cụ Nguyễn Văn Khoát viết lại:

“- Một hôm, tôi hỏi ông nguyên Bộ trưởng (Phạm Văn Đồng – TG) nhiệm vụ tôi phải thi hành đối với quỹ. Ông trả lời nếu tình thế cấp bách, tôi có thể tạm mang tiền quỹ về nhà. Ông tin tôi mà bảo thế, nhưng trái lại tôi hoảng sợ, vì tôi không có quyền mang tiền công quỹ ra khỏi trụ sở Nha Ngân khố. Ai sẽ chứng minh lòng ngay thẳng của tôi nếu ông Bộ trưởng không có mặt tại chỗ. Trước ngày 6/3/1946 (ngày kí Hiệp định sơ bộ giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp) tôi lo liệu biến [chuyển] tất cả giấy bạc 500 đồng Đông Dương thành giấy bạc 100 đồng Đông Dương (vì Ngân hàng Pháp đã công bố loại giấy bạc 500 đồng Đông Dương không có giá trị, Ngân hàng Đông Dương không chịu trách nhiệm về loại giấy này trong thời kì chiếm đóng của quân đội Nhật Bản). Tôi đưa ông Bộ trưởng kí một công văn chỉ thị cho Giám đốc Ngân khố hữu sự sẽ giao số tiền còn lại trong quỹ (hơn 6 triệu đồng) cho ông Vũ Ngọc Trác là Bí thư của ông Bộ trưởng. Ngày 19/12/1946 tôi đã chu đáo với tiền quỹ. Tiền quỹ mang được đi hết. Ủy ban Kháng chiến Hành chính Khu II cử giữ hộ. Tôi mang hai hòm tiền cuối cùng vào Chi Nê (Hòa Bình) chiều tối hôm tác chiến để gặp ông Bộ trưởng và sau nộp số tiền ấy vào Ty Ngân khố Hà Đông”.

Suốt trong thời gian kháng chiến, cụ Nguyễn Văn Khoát đã cùng với Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trịnh Văn Bính, Giám đốc nhà máy in bạc Bộ Tài chính Phạm Quang Chúc… đóng góp nhiều công sức cho Bộ Tài chính nói chung và ngạch Ngân khố nói riêng. Do tuổi mỗi ngày một cao, sức mỗi ngày thêm yếu, công tác ngày càng phát triển và càng trở nên phức tạp, cụ thấy cần chuyển chức Giám đốc Nha Ngân khố cho những cán bộ trẻ có năng lực “sẽ lợi cho công tác nhiều và cơ quan được kiện toàn như ý muốn”. Phần cụ “sẽ xin một công tác khác hợp với tuổi, với sức khỏe và năng lực. Các con tôi đã ra tòng quân phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến thay tôi lúc tuổi cao sức yếu, tôi [tin] tưởng Bộ sẽ thể tất đề nghị của tôi”.

Ngày 26/4/1953, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết thư riêng gửi đến cụ:

“Tuy đã lâu lắm tôi không có dịp gặp ông, nhưng tôi thường hỏi thăm anh Tài và anh em ở Bộ Tài chính về sức khỏe và công tác của ông. Nghe nói ông vẫn khỏe, tận tụy làm việc, sống đơn giản và vui vẻ, tôi mừng trong lòng.

Về việc ông xin về hưu và Bộ đã đồng ý, tôi không có ý kiến gì. Ông đã làm trọn chức vụ và nghĩa vụ. Chỉ tiếc trong hoàn cảnh k.c [kháng chiến] không đâu có cảnh nhàn hạ. Nhưng có lẽ đã quen với k.c [kháng chiến] rồi, ông cũng không mong cảnh nhàn hạ theo quan điểm ngày xưa…”

Kiều Mai Sơn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s