Lịch sử nước ta – Hồ Chí Minh


Để giáo dục  tinh thần yêu nước cho nhân dân, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết và tham gia Mặt trận Việt Minh làm cách mạng, giành độc lập cho Tổ quốc. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc  trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng đã sáng tác bài diễn ca dài: Lịch sử nước ta theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu, và một bảng ghi “Những năm quan trọng” Kèm theo,xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2/1942. Nội dung chủ yếu của Lịch sử nước ta là ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc ta suốt từ thời Hồng Bàng dựng nước đến 1942, tức là năm tác phẩm ra đời.

Dân ta phải biết sử ta 
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn nghìn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là Tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời,
Tuổi tuy chưa đến chín mười
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương .
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

Nước tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.


Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu, tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời.


Kể gần sáu trăm năm trời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài
Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền.


Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu.

Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

Đến hồi Thập nhị sứ quân
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng
,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.

Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.

Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.

Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài.
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín BẮc Kỳ như nen
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một dải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh.
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sau tuổi ra oai trận tiền
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.

Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu.
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét, chở về Tàu sạch trơn.

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nản.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa, Bắc Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.

Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua
Cuối đời mười sáu, Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.

Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vưong.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.

Gia Long lại dấy can qua
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài
Nhờ Tây qua cứu tính bài giải vây
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi dẫy mả, thiệt là ngu si.

Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan.
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩa càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng.
Trung kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên.
Giang san độc lập một miền
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa.
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.

Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi.

Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rẫy rà.
Ấy là dịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành,
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

—————————————————

NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG

Hồng Bàng (trước lịch Tây ~ trước công nguyên), năm – 2879

Tàu lấy nước ta lần đầu, năm -111

Hai Bà Trưng đánh Tàu (sau công nguyên), năm 40

Bà Triệu Ẩu khởi nghĩa, năm 248

Vua Lý đánh Tàu, năm 544

Tàu lấy nước ta, năm 603

Vua Ngô khởi nghĩa, năm 938

Đời vua Đinh, 12 năm kể từ 968

Đời vua Tiền Lê, 29 năm kể từ 981

Đời vua Hậu Lý, 215 năm kể từ 1010

Lý Thường Kiệt đánh Tàu, năm 1076-1077

Đời vua Trần, 175 năm kể từ 1225

Trần Hưng Đạo đánh Tàu, năm 1285-1287

Tàu lấy nước ta, năm 1407

Vua Lê khởi nghĩa, năm 1417

Đời vua Hậu Lê, 360 năm kể từ 1428

Vua Lê, chúa Trịnh, từ 1545

Đời vua Tây Sơn, 24 năm kể từ 1771

Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu, năm 1789

Gia Long thông với Tây, năm 1794

Tây bắt đầu đánh nước ta, năm 1857

Vua nhà Nguyễn đầu hàng Tây, năm 1862

Ông Đề Thám khởi nghĩa, năm 1889

Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa, năm 1893

Trung Kỳ khởi nghĩa, năm 1915-1916

Thái Nguyên khởi nghĩa, năm 1917

Yên Bái và Nghệ An khởi nghĩa, năm 1930

Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa, năm 1940

Nam Kỳ khởi nghĩa, năm 1941

Việt Nam độc lập 1945  (*)

(*) Dự đoán thiên tài của Người : Việt Nam độc lập 1945. Ba năm sau, lời tiên tri ấy đã thành sự thật lịch sử với cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 hoàn toàn thắng lợi, dẫn đến việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

—————————————————————–

Nguồn tư liệu:

http://www.ninhthuan.vnpost.vn/cmhcm/newstb.asp?il=2&id=373

http://nld.com.vn/167604P0C1002/hieu-lich-su-la-hieu-van-hoa.htm

http://my.opera.com/giaoviendialy/blog/765

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s